Cú vọ phương Bắc – Northern Saw-whet (Acadian Owl)

Mô tả và phân bố: trong phần ảnh bên dưới

Kích thước: Dài thân 17-22 cm (phần đuôi 6.5-7.3 cm), sải cánh 25 – 29.3 cm. Con mái thường lớn hơn con trống.

Thói quen: NSW là loài cú đêm, các hoạt động của chúng thường bắt đầu vào lúc hoàng hôn đã buông xuống. Ban ngày, chúng dùng bộ lông để ngụy trang khi đậu trong ác tán là nằm sát mặt đất. Khi cảm thấy bị đe dọa chúng sẽ kéo dài cơ thể của mình ra, đưa 1 cánh bao lấy phần trước của cơ thể để trông giống như 1 nhánh cây hoặc khối u của cây.
Những khi bay, cơ thể chúng nhấp nhô giống như làn sóng,vỗ cánh nhanh và cần mẫn.

1 con NSW trưởng thành – Duluth, Minnesota, USA

Thanh âm: SNW phát ra âm thanh nhiều chủ yếu suốt mùa sinh sản (thường là giữa tháng 3 và tháng 5). Cuộc gọi kết đôi là một tiếng huýt “hoop” đơn điệu, phát ra với tốc độ khoảng 1,5 nốt / giây, có thể kéo dài trong vài giờ mà không nghỉ. Chúng sẽ phát ra một loạt âm thanh ngắn và rõ ràng khi muốn đánh dấu lãnh thổ của mình (âm thanh dưới file đính kèm). Cái tên Saw-Whet là do con người đặt cho chúng theo tiếng kêu báo động của chúng, âm thanh này có sự tương đồng với tiếng rít của cưa. Khi con trống mang thức ăn về tổ, chúng sẽ huýt lên những hồi còi nhanh và ngắt quãng và con mái sẽ đáp lại bằng những tiếng “swEE” mềm mại.

Săn mồi và thức ăn: NSW chủ yếu săn mồi bằng chiến thuật săn mồi tĩnh “chờ và đợi”, lao xuống con mồi từ những nhánh, cành cây thấp. Chúng cũng sẽ băng qua các khu rừng và săn mồi trong các bụi cây, bụi rậm. Khi nguồn thức ăn dồi dào, SNW sẽ bắt khoảng 6 con chuột liên tiếp mà không tiêu thụ bất kì con nào. Chúng sẽ chỉ ăn phần đầu của con mồi và phần thân dư thừa được lưu trữ ở những nơi an toàn, và vào mùa đông, chỗ thức ăn đông cứng đó sẽ được làm tan ra bằng cách “ấp ủ”.

NSW ăn chủ yếu là những loài động vật có vú cỡ nhỏ, chuột hươu là con mồi chính, sau đó là chuột đồng. Những loài động vật khác bao gồm sóc, chuột chũi, dơi, sóc bay và chuột nhà. Những loài chim nhỏ khác như chin én, chim sẻ, chim bạc má, hồng tước đôi khi cũng trở thành con mồi khi rơi trứng tầm ngắm của SNW.
Những loài chim lớn hơn như Hồng y phương Bắc và Chim cu đất có thể bị giết bởi SNW. Ếch và côn trùng cũng là một phần trong khẩu phần ăn của chúng.
Các viên thải ra rất nhỏ và có màu xám đen, khoảng 1,9cm x 1,3cm.

Sinh sản: Do bản chất du mục của loài nên những cặp đôi SNW dường như không có liên kết trọn đời với nhau, hoặc đơn thân SNW thường quay lại cái tổ cũ của mình. Con trống thường cất tiếng kêu khoe mẽ lãnh thổ với con mái vào cuối tháng 3 đầu tháng 4. Sau khi con mái bị thu hút bởi tiếng kêu đó, con trống sẽ vừa bay quanh trên đầu con mái )hoặc đưa con mái đến thẳng tổ của mình) trong khi vẫn tiếp tục bài ca tán tỉnh của mình. Con trống sau đó sẽ đậu gần con mái, bắt đầu nhảy múa điên cuồng và dần tiến sát lại bạn tình của mình. Thông thường, con trống sẽ đem theo 1 con chuột và trao cho con mái bằng mỏ của mình.
NSW làm tổ trong những tổ cũ của chim gõ kiến để lại, hoặc cái hốc tự nhiên nào đó. Hoặc chúng cũng dễ dàng làm tổ trong những cái tổ nhân tạo. Tổ trong các hốc cây (thường là những cây đã chết) cao trung bình 4-6 mét so với mặt đất. Chúng làm tổ khoảng từ tháng 3 đến tháng 7.
Ổ của NSW thường có sức chứa khoảng từ 3-7 quả trứng (trung bình là 5-6 quả), những quả trứng được đẻ cách nhau khoảng 1-3 ngày, thông thường là 2 ngày. Trứng có kích thước trung bình là 3*2.5 cm. Con mái sẽ hoàn tất quá trình ấp trứng hoàn toàn trong khi con trồng sẽ lo phần thức ăn và bảo vệ khu vực tổ của chúng. Quá trình ấp trứng khoảng 21-28 ngày. Những con non sẽ có thể rời tổ khi được khoảng 4-5 tuần tuổi và sẽ rời nhau lần lượt mỗi 1-2 ngày cho đến khi rời đi hết. Những con non vẫn sẽ được bố mẹ chúng chăm sóc vài tuần sau khi rời tổ. Và khi được khoảng 9-10 tháng tuổi thì chúng sẽ tiếp nối quy trình kết đôi như bố mẹ chúng đã làm trước đó.

1 con NSW tuổi cập kê

Một cặp sẽ chỉ sinh sản 1 lần; và vào những năm khi nguồn thức ăn dồi dào, chúng sẽ làm tổ sớm hơn một chút so với mùa sinh sản thường lệ.

Tuổi thọ: Những con cú NSW có thể sống 10 năm nếu được nuôi, nhưng những con ngoài tự nhiên có tỉ lệ sống thấp hơn tương đối cao. Chúng cạnh tranh với những loài Cú phương Bắc khác, chim sáo đá và sóc để giành nơi làm tổ, và sẽ bị săn bởi những loài cú lơn hơn, chồn và diều hâu.

Môi trường sống: NSW sống trong những khu rừng lá kim và rụng lá, với những bụi cây thứ cấp hoặc cây nhỏ, nơi chim gõ kiến tạo sẵn các hốc để làm tổ. Môi trường sinh sản thường là đầm lầy hoặc ẩm ướt thay vì khô. Những khu vực ven sông cũng là nơi ưa thích của loài này.

Nguồn: Sưu tầm và biên dịch bởi Owl Lovers

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.